Lễ Chém lợn: Con mắt Tây phán xét văn hóa bản địa?

Con mắt văn hóa Phương Tây tự mâu thuẫn?

Ngày 27/1, Tổ chức Động vật châu Á đã kêu gọi cộng đồng cùng vận động ngành quản lý tại Việt Nam chấm dứt Lễ hội Chém lợn ở Bắc Ninh.

Tổ chức Động vật Châu Á cho rằng đây là lễ hội tàn bạo nhất ở Việt Nam, gây ra không ít những tác động tiêu cực về nhiều mặt. Bao gồm những ảnh hưởng xấu tới tâm lý của những người chứng kiến và tác động tới kinh tế xã hội, cụ thể ở đây là tới ngành du lịch cũng như hình ảnh của Việt Nam.

“Việc chém những con lợn còn đang sống khỏe mạnh là một lối đối xử tàn ác đối với động vật, nó làm trơ lì cảm xúc của người xem khi chứng kiến cách thức động vật bị đối xử dã man, đặc biệt là đối với trẻ em, đối tượng có tâm lý chưa hoàn thiện ổn định và dễ bị ảnh hưởng.

Nhiều nghiên cứu đã cho thấy những người chứng kiến và thực hiện nhiều hành động tàn ác với động vật cũng có xu hướng đối xử tàn ác và thô bạo đối với người khác trong cùng cộng đồng” – tổ chức này nêu rõ.

Nghi lễ Chém lợn trong Lễ hội Chém lợn ở Bắc Ninh.
Nghi lễ Chém lợn trong Lễ hội Chém lợn ở Bắc Ninh.

Trước lời kêu gọi của Tổ chức Động vật Châu Á, nhiều chuyên gia văn hóa cho rằng cách đề cập của tổ chức này là chưa phù hợp về cách tiếp cận.

Đại biểu Quốc hội, nhà sử học Dương Trung Quốc cho rằng việc sử dụng các cụm từ “dã man”, “tàn ác”, “phản cảm” khi nói về một lễ hội truyền thống là thiếu thận trọng.

“Nếu họ nói vậy khi nhắc tới yêu cầu bảo vệ động vật hoang dã tại Việt Nam thì tôi hoàn toàn tán thành. Nhưng, nghi thức trong lễ hội thì lại gắn với những đặc thù riêng về truyền thống tín ngưỡng” – ông Quốc nói.

Hơn nữa, ông Quốc cho rằng: “Trước khi đưa ra nhận xét cuối cùng, chúng ta nên có thiện chí để tìm hiểu rõ về căn nguyên và lịch sử của những nghi thức ấy”.

“Chúng ta hãy cứ nghĩ rằng kiến nghị của Tổ chức Động vật Châu Á xuất phát từ sự chân tình và cần được tôn trọng. Tuy nhiên, việc thay đổi thế nào, thay đổi tới đâu, thì lại là một câu chuyện cần được nghiên cứu kĩ” – nhà sử học Dương Trung Quốc nói thêm.

Bên cạnh đó, theo PTS Trần Lâm Biền, đây là nghi thức với ngầm ý xin thành hoàng phù hộ để vùng đất bản địa được trù phú, màu mỡ – khi màu đỏ của tiết lợn được coi là biểu trưng của sinh khí. Và, trong vài năm gần đây, cuộc tranh cãi của giới nghiên cứu về việc duy trì hay thay đổi nghi thức này cũng thường xuyên diễn ra, nhưng với một quy ước bất thành văn: Tôn trọng truyền thống, cũng như cộng đồng người dân Ném Thượng.

GS Ngô Đức Thịnh bức xúc: “Tôi luôn bất bình với việc một số người tự cho mình quyền phán xét rất thiếu trân trọng về văn hóa của một địa phương khác bằng các cụm từ dã man, man rợ, hủ tục”.

Ông chia sẻ: “Nếu người ta nhìn câu chuyện từ con mắt của văn hóa Phương Tây, thì tôi xin chỉ ngay ra một nguyên tắc của chính UNESCO: Các phong tục, truyền thống văn hóa của từng cộng đồng đều có sự bình đẳng, miễn là không xâm phạm quyền con người”.

Phương Tây có hiến tế không?

Tổ chức Động vật Châu Á do Tiến sỹ Jill Robinson MBE (người Anh) sáng lập vào năm 1998.

Lễ hội chém lợn của làng Ném Thượng (Tiên Du, Bắc Ninh) được tổ chức vào mùng 6 Tết hằng năm.

Trong nghi lễ chém lợn, “ông lợn” được chọn sẽ bị chém để lấy máu tế thành hoàng.

Ông Nguyễn Đăng Quy, 86 tuổi, giận dữ khi biết thông tin lễ hội của làng đang bị đề nghị chấm dứt.

“Chém lợn là lễ hội của làng chúng tôi từ hàng trăm năm nay. Diễn lại tích để tưởng nhớ vị tướng quân chém lợn rừng nuôi quân. Tại sao lại gọi việc đó là dã man?”, ông Quy nói.

Theo ông Quy, cắt cổ hay chọc tiết lợn ở chỗ kín đáo thì không còn giữ được tính nguyên bản nghi lễ.

Lễ hội chém lợn bắt nguồn từ một truyền thuyết xưa, vị tướng Đoàn Thượng khi đánh trận chạy đến vùng núi Ném Thượng đồn trú đã chém lợn rừng nuôi quân. Từ đó, hằng năm người dân mở hội chém lợn để tưởng nhớ người có công khai khẩn đất đai.

Một hình ảnh tại Lễ hội Chém lợn.
Một hình ảnh tại Lễ hội Chém lợn.

Ông Nguyễn Hưng Thể, 58 tuổi, người thủ đao trực tiếp chém lợn trong 2 năm liền cũng cho rằng đây không phải hành động tàn bạo mà chỉ là một tập tục bình thường của địa phương.

Ông Thể cho biết: “Nếu nói giết lợn dã man thì to tát quá. Đầu năm mổ lợn để lấy thực phẩm dùng trong ngày Tết, cúng giỗ ở đâu chẳng có. Từ bao nhiêu năm nay, hàng ngàn người xem lễ hội, tôi chưa thấy trẻ con trong làng bị ảnh hưởng nặng nề khi chứng kiến chém lợn. Trái lại, lễ hội đem đến cho mọi người sự vui vẻ, phấn khởi ngày đầu năm mới”.

Đồng tình với việc chém lợn giữa chốn đông người gây phản cảm nhưng theo ông Bùi Quang Nhật, 71 tuổi, đây là phong tục đã ăn sâu vào tiềm thức của dân làng. Vì thế không thể nói bỏ là bỏ ngay được.

“Chúng tôi đã tránh chém lợn và thay bằng cắt cổ lợn. Giờ ngay cả việc cắt cổ lợn cũng làm chỗ khuất thì coi như mất luôn lễ hội. Lễ hội thì phải có người xem, năm nay chúng tôi vẫn quyết định tổ chức nghi lễ ở giữa sân đình”, ông Nhật nói.

Không lấy sát sinh làm trò vui

Ông Nguyễn Văn Ảnh, phó giám đốc Sở VH-TT&DL tỉnh Bắc Ninh, cho biết từ lễ hội năm 2014, được sự chỉ đạo của Bộ VH-TT&DL và UBND tỉnh Bắc Ninh nên Sở VH-TT&DL tỉnh Bắc Ninh đã điều chỉnh và hạn chế những hoạt động ở Lễ hội Chém lợn làng Ném Thượng.

Ông Ảnh cho biết năm 2015 Sở VH-TT&DL tỉnh Bắc Ninh sẽ vẫn duy trì lễ hội truyền thống này, nhưng với hoạt động giết lợn hiến tế sẽ không chém heo ở chỗ đông người xem như nhiều năm trước nữa.

Vân Nhi (Tổng hợp)

Bối cảnh-một định hướng nghiên cứu văn học nhiều triển vọng

BT12

Thuật ngữ “bối cảnh” bắt nguồn từ tiếng La-tinh “textere”, vốn có nghĩa là “hành động dệt”. Trong một nghĩa rộng hơn, “bối cảnh” là tất cả những gì đi cùng với văn bản. Một văn bản, giống như một mảnh vải, được “dệt” thành từ tình huống của một sự diễn xướng được bố trí sẵn (mà trong đó gồm): người nghe, người trình diễn, những nền tảng kiến thức và hiểu biết của một nhóm người có tính xã hội, và nền tảng văn hoá của người kể/hát lẫn người nghe. Cụ thể là từ nhừng năm 1960, khi mà các nhà folklore nhấn mạnh yếu tố trình diễn nhằm đáp ứng việc phát triển trong lĩnh vực ngôn ngữ học xã hội thì bối cảnh đã được sử dụng như là một khái niệm có tính phân tích, làm trọng tâm để khám phá những điều kiện mà các tư liệu folklore đã được sáng tạo, lưu truyền và tiếp nhận. Bởi vì được sử dụng trong lĩnh vực nghiên cứu folklore nên cách nghiên cứu theo bối cảnh cố gắng làm cho các tư liệu folklore đạt được tính dễ hiểu, thấu đáo và toàn diện hơn là mô tả hay chỉ giải thích.

Việc hiểu khái niệm bối cảnh là nhờ vào sự phát triển của ngành Nhân học Văn hoá, đặc biệt là sự đóng góp của Bronislaw Malinowski, ông đã tìm ra cách nghiên cứu folklore thông qua công trình của William Bascom. Các khái niệm “bối cảnh tình huống” và “bối cảnh văn hoá” của Malinowski, vốn được coi là yếu tố tối cần thiết để hiểu một văn bản, đã thu hút sự chú ý (của mọi người) vào cả những tình huống cụ thể (mà một văn bản sẽ được sáng tác hay diễn xướng) lẫn những hệ thống văn hoá lớn hơn (mà văn bản là một phần trong đó). Những quan niệm về bối cảnh và tầm quan trong của nó trong việc hiểu văn bản đòi hỏi cần có một cấp độ mới của việc phân tích và chuyển hướng chú ý của các nhà nghiên cứu folklore từ chức năng sang ý nghĩa, từ giải thích sang thông diễn. Alan Dundes yêu cầu làm sáng tỏ bản chất của bối cảnh bằng cách đặt bối cảnh trong mối quan hệ với các khái niệm “văn bản” (một phiên bản đơn lẻ của một tiết mục folklore) và “kết cấu” (những yếu tố thuộc về cấu trúc ngôn ngữ của văn bản). Theo Dundes, bối cảnh của một tiết mục folklore là một hoàn cảnh xã hội đặc biệt mà trong đó, các tiết mục cụ thể được sử dụng thực tế [Dundes, tr.23]. Dundes đã khẳng định rằng văn bản và những yếu tố liên quan phải được hiểu không chỉ là có mối quan hệ với bối cảnh mà còn bị bối cảnh gây ảnh hưởng. Do vậy, trong lĩnh vực sưu tầm folklore, tài liệu được tìm hiểu không chỉ là văn bản mà còn là bối cảnh bởi lẽ bối cảnh sẽ cung cấp cho chúng ta câu trả lời cho câu hỏi: điều gì quan trọng trong văn bản và tại sao chúng được sử dụng trong hoàn cảnh xã hội đó. Việc phân tích [các vấn đề] ai kể, kể cái gì, kể với ai, kể khi nào và kể trong hoàn cảnh nào cho phép chúng ta hiểu được tại sao văn bản có một cấu trúc hình thức như vậy. Ngoài ra, theo Dundes, việc bối cảnh định hướng cho văn bản là một bằng chứng cho thấy hiểu biết về bối cảnh có thể giải thích sự biến đổi bên trong của văn bản và kết cấu [Dundes, tr. 27]. hiểu rõ bối cảnh hơn sẽ cho phép người nghiên cứu hiểu vì sao có sự khác nhau trong số nhiều câu chuyện cùng loại.

Bối cảnh có liên quan đến hành động kể chuyện một cách rất hữu cơ, rõ ràng. Áp dụng mô hình ngôn ngữ vào hoạt động giao tiếp trong một tình huống kể chuyện, từ năm 1969, Robert A. Georges đã nhấn mạnh rằng: thông điệp của mỗi tình huống kể chuyện được định hướng do sự tương tác/ tiếp xúc giữa người kể và người nghe trong sự tham chiếu với mối quan hệ tương tác có tính xã hội giữa họ, mà hoàn cảnh đó vốn là độc đáo duy nhất cho mỗi dịp kể chuyện. Tuy nhiên, vai trò của bối cảnh trong kể chuyện đã được biết đến rất rõ từ trước thập niên 60 của thế kỉ XX. Đại diện cho quan niệm nghiên cứu bối cảnh ở Đông Âu, Mark Azadovskii đã nhấn mạnh vai trò của người kể trong quá trình kể chuyện vào khoảng thời gian sớm hơn năm 1926 trong bài viết Einc Sibirische Marchenerzahlerin, qua lời giới thiệu cho lần hiệu đính tuyển tập truyện cổ tích sưu tầm ở vùng cao Lenar ở Irkutsk vào năm 1925. Được dịch sang tiếng Anh vào năm 1974 với nhan đề A Siberian Tale Teller, công trình có tính tiên phong của Azadovskii đã tìm thấy sự cộng hưởng trong số các nhà nghiên cứu folklore Hoa Kỳ vốn chỉ ở thập niên 1980. Azadovskii trình bày một hình ảnh về người kể chuyện có tính cách mạng, đặc biệt là Natalia Vinoukurova, một người mù chữ đã cung cấp cho Azadovskii hơn 50 truyện kể. Trong số các nhân vật xuất hiện trong truyện kể của Vinoukurova, có những người lang thang cơ nhỡ, mà một số trong đó là tù nhân ở vùng Upper Lena. Bằng cách phân tích các mô-típ cụ thể trong các truyện của Vinokurova, Azadovskiikhám phá ra rằng, một số môtíp hình thành từ bối cảnh lịch sử cụ thể và sự diễn xướng của người kể chuyện phụ thuộc rất lớn vào tình trạng tâm lí của người kể.

Linda Dégh là một nhà khoa học khác đại diện cho trường phái Đông Âu trong việc nghiên cứu bối cảnh. Trong quyển, Folktales and Society, xuất bản lần đầu ở Đức năm 1962 và được dịch sang tiếng Anh năm 1969, Dégh tập trung vào mối quan hệ giữa truyện kể, người kể và xã hội. Công trình nghiên cứu của bà đã cho thấy sự ảnh hưởng của cá tính và địa vị xã hội của người kể chuyện vào văn bản của truyện kể và giải thích rõ khái niệm “tính ổn định” và “tính liên tục” trong truyền thống. Tính liên tục, một khi nảy sinh, phụ thuộc vào người kể lẫn người nghe đóng vai trò then chốt trong bối cảnh xã hội. Dù người kể nói câu chuyện yêu thích của họ nhưng người nghe không cảm thấy hứng thú với câu chuyện đó thì nó sẽ không hề lưu dấu vết trong kho tàng truyện truyền thống. Bằng cách truy tìm những truyện kể khác mà nó có khả năng khơi gợi sự chú ý của tác giả, người kể duy trì vốn truyện kể trong vốn truyện của họ.

Những nhà nghiên cứu loại tự sự dân gian trước đây đã ngấm ngầm nhận ra rằng truyện dân gian có thể được định hướng bởi cái mà bây giờ chúng ta gọi là “bối cảnh” khi mà các học giả ấy đã xem truyện kể như là sự biểu hiện/ hiện thân của xã hội, văn hoá, và đặc tính dân tộc. Dựa vào các công trình của tác giả người Đức Joham Gottfried Herder ở thế kỉ XVIII và của anh em nhà Grimmm vào thế kỉ XIX, phong cách của truyện kể dân gian có nguồn gốc từ những bối cảnh xã hội và những bối cảnh văn hoá mà tác phẩm được sáng tác. Herder chứng minh rằng văn học dân gian mang ơn những người nông dân vốn gần gũi với tự nhiên trong việc hình thành phong cách của nó. Ngày nay – với sự trỗi dậy của các phương pháp nhân học văn hoá, các phương pháp tiếp cận dân tộc học và các phương pháp lịch sử, xã hội, nghiên cứu văn hoá và phong trào văn hoá xã hội như Nữ quyền – các nhà nghiên cứu đã chọn lựa được một bối cảnh rộng hơn của xã hội, văn hoá và các yếu tố tình huống đưa vào nghiên cứu khi xem xét. Điều đó còn bao gồm cả tuổi tác, giới tính, dân tộc, giai cấp, tình trạng kinh tế, xã hội của người kể lẫn người nghe. Tất cả những yếu tố đó đóng vai trò trong việc khám phá hình thức, ý nghĩa và chức năng của tư liệu truyện kể.

(Huỳnh Vũ Lam dịch từ “Donald Haase (2008), The Greenwood Encyclopedia of Folktales and Fairy Tales, Greenwood Press, USA)

Tiểu luận về Folklore trong bối cảnh (Dan Ben-Amos)

Lời nói đầuP1070276_thumb.jpg

Cái dòng mạch kết nối tất cả những bài viết này là mạch của những ý định, mong muốn thúc đẩy việc nghiên cứu có hệ thống về văn hoá dân gian tiến lên phía trước. Khi đặt ra cho mình mục tiêu như vậy, tôi gia nhập vào một nhóm các nhà nghiên cứu, trước đây và bây giờ, để biến đổi tình trạng nghiên cứu ở lĩnh vực văn hoá dân gian từ những chuyện lặt vặt thành một mục đích có tính quy cũ. Cùng lúc tôi cắt đứt quan hệ với một số người trong nhóm các nhà nghiên cứu đó.Tôi mong muốn phát huy việc nghiên cứu văn hoá dân gian không phải bằng cách xây dựng một hệ thống có tính phân loại mà bằng cách đi tìm những quan niệm (về folklore), những khái niệm và những phương pháp sẽ hứa hẹn cung cấp cho chúng ta một sự hiệu thấu toàn diện về văn hoá dân gian trong đời sống. Với mục đích như vậy, tôi đã tách biệt rõ  (loại trừ) những cái không có liên quan đến lĩnh vực văn hoá dân gian và những giá trị không có tính định hướng, cụ thể tới mức chỉ cần tôi tìm thấy trong những thứ ấy bất kì ý tưởng nào có thể dẫn đến việc không hiểu thực tế của văn hoá dân gian.

Sau sự phát triển nhanh chóng của việc sưu tầm folklore, công việc chủ yếu của ngành folklore học là thiết lập thứ tự các tư liệu nhờ vào việc xây dựng hệ thống có tính phân loại, một hệ thống có thể làm cho tất cả truyện kể, bài hát, và các hình thức ngôn ngữ khác có thể đến được với các nhà nghiên cứu. Ở thời điểm ấy, công việc như vậy là cần thiết. Tuy nhiên giờ đây, với những mục tiêu đã hoàn thành, vấn đề cấp bách là nghiên cứu folklore không phải theo cách hàn lâm của các học giả kiểu như làm việc trong thư viện và phòng thí nghiệm, kho lưu trữ và bảo tàng mà theo cách đi vào trong thực tế xã hội kiểu như là người ta trình diễn và thể hiện (các tác phẩm) trong nhà, ở hàng hiên, tại toà án hay thậm chí ở nơi chợ búa.

Cách thức nghiên cứu folklore trong đời sống xã hội như vậy không nên cung cấp một cách đơn giản hàng đống tư liệu cho folklore bằng sự sưu tầm vồ vập, cái cách làm vốn có ưu thế cho việc lưu trữ lần lượt tài liệu để rồi sau đó có thể sẽ cần một hệ thống phân loại mới, rồi cứ tiếp diễn cho đến vô cùng tận. Trái lại, cách làm mới nên động viên mọi người đưa vào thành hệ thống những khái niệm thích hợp, những phạm trù và những mối quan hệ để giải thích và làm cho rõ tính tự nhiên của việc trình diễn folklore và khớp nối các nguyên tắc chi phối các hoạt động trình diễn ấy. Một số khái niệm then chốt mà tôi dùng trong công trình này, đôi khi rất rõ ràng và đôi lúc ngấm ngầm, là bối cảnh, quá trình thể loại. Các khái niệm này xuất hiện như là những thuật ngữ quan trọng trong một số bài viết và diễn đạt những quan điểm căn bản của tôi về folklore cũng nhữ trong nhiều nhiều công trình khác. Bởi vì một số công trình riêng biệt khác đã chứng minh một cách rõ ràng là các thuật ngữ vừa nêu không phải do tôi tạo ra. Trong một thập niên qua, ba khái niệm trên đã đạt được sự chú ý mới trong giới khoa học về folklore và các ngành khoa học liên quan, đồng thời cũng làm phong phú thêm những hiểu biết của con người trong lĩnh vực ngôn ngữ và văn hoá xã hội. Một số công trình đặc biệt hơi gặp khó khăn với hai thuật ngữ bối cảnhthể loại,  nhưng không có bài viết nào gặp khó với thuật ngữ quá trình, một khái niệm dường như tạo ra rất hợp lí.

Tôi khẳng định rằng folklore không phải là tổng số nhiều vấn đề mà là một quá trình trong đó có những yếu tố khơi gợi và lan toả, ảnh hưởng với nhau. Tuy nhiên, hiện tại khái niệm quá trình được xem là một thuật ngữ có tính cụ thể trong lĩnh vực khoa học xã hội được áp dụng rộng rãi vào folklore. Trong bối cảnh này, ‘quá trình’ có liên quan tới sự đàm phán có tính xã hội và văn hoá giữa những nguyên tắc và sự hiện thực hoá của các nguyên tắc đó, giữa những phạm trù văn hoá và hành động của con người. Nếu trong thơ T.S. Eliot có thể nói rằng:

Giữa ý tưởng

và thực tiễn

Giữa những cử chỉ

và hành động

Rơi vào cái bóng,

Thì trong xã hội, khoảng trống giữa những phạm trù trừu tượng (nguyên lý đạo đức) và thực tiễn xã hội là phạm vi hoạt động của những sự việc kịch tính trong đời sống, là những băn khoăn do dự triền miên giữa suy nghĩ và hành động. Trong folklore của mỗi xã hội, “thể loại” cung cấp những phạm trù văn hoá trừu tượng, nó buộc những phát biểu của nhà nghiên cứu folklore phải theo nguyên tắc và cấu trúc nhất định. Tuy nhiên mỗi một lối diễn xướng cụ thể  thì lại bao gồm sự tương tác liên tục giữa ý tưởng và thực tế, giữa nguyên lí chung và cái cụ thể, giữa những trật tự có tính lí tưởng và những khoảnh khắc lộn xộn. Tất cả những sự kiện và cách thức của những quá trình ấy bộ lộ những động lực cho văn học truyền miệng và là cơ sở cho việc xây dựng khoa học về folklore.

Dan Ben-Amos

(Huỳnh Vũ Lam chuyển ngữ)

Trường Đại học Pennsylvania

Philadelphia

Jannuary, 1982

(Nguồn: Dan Ben-Amos, Folklore in context essays, South Asian Publishers, New Delhi, Madras)