Blog

Talking about Thênh thang một cõi Bắc Hà

 

Quote

Thênh thang một cõi Bắc Hà

Vừa rồi, tui có một chuyến đi Hà Nội. Lần đầu tiên đi Bắc, bao ngỡ ngàng và lạ lẫm làm tui rất phấn khích.

Đầu tiên là đi máy bay. Lúc máy bay cất cánh bạn có cảm giác thế nào? Từ sân bay Cần Thơ, bạn bay lên sẽ thấy sông Hậu hiền hòa thế nào

Xin mời xem clip dưới đây:

  

Sau khi tới Hà Nội, tui được đưa đi Bắc Giang. Wa, từng nghe câu hát khi còn ngồi trên ghế nhà trường:

“Em là con gái Bắc Giang,

rét thì mặc rét nước làng em lo”

Chắc ở Bắc Giang lạnh lắm (may mà có chuẩn bị áo ấm). Đến nơi quả là vậy. Đầu hôm hơi lạnh, gần sáng không dám đưa chân ra khỏi mền (sợ bị biến thành nước đá). Món ăn sáng đầu tiên Ở Bắc Giang. Nhìn nè:

Một tô phở bò, một hột vịt lộn còn nóng hổi, một dĩa rau răm xanh rờn, một dĩa gừng vàng ươm, mấy miếng chanh tươi gọn ghẽ, ớt và muối. Đó là phần ăn dành cho 01 người. Quá ngon. Nước uống có hai loại tùy bạn chọn: trà nóng và rượu Làng Vân. Buổi sáng lạnh cắt da cắt thịt, ăn một hột vịt lộn còn nóng, hớp nửa ly rượu Làng Vân thấy cuộc đời mình sống có ý nghĩa biết bao. Ăn thêm bát phở bò no căng bụng thấy mình hơi phung phí … thôi kệ cảm xúc thoáng qua ấy mà (mai mốt về nhà không có mà ăn .. ở đó giả bộ – tui tự nói với mình)

Ở Bắc Giang được một ngày ăn uống nhiều thứ của ngon vật lạ. Khẩu vị không đến nỗi lạ như Hà Nội chắc có lẽ vùng này là trung du.

Hôm sau được đi Lạng Sơn. Xe đưa chúng tôi đi ngược lên hướng Bắc qua những huyện, những xã như Lạng Giang, Lạng Xương. Bất chợt nhớ đến câu văn trong bài Bình Ngô Đại cáo của Nguyễn Trãi:

“Lạng Giang, Lạng Xương thây chất đầy đường

Xương Giang, Bình Than máu trôi đỏ nước”

Câu văn gợi nhớ một thời anh hùng, nghĩa quân Lam Sơn đánh gặc Minh chết như rạ. Đi qua cửa Ải Chi Lăng, thấy lòng bùi ngùi (trời sao mà sến quá). Đây là cửa Ải Chi Lăng nơi tướng Liều Thăng bị chém đầu năm nào.

Đến Lạng Sơn, điều đầu tiên là được ăn ngon. Bàn ăn bày rất là nhiều thứ. Xem nè:

Trên này có Đậu hủ sốt chua, rau xau xau chấm mẻ, khâu nhục, Vịt quay Đông Kinh, cơm Tứ Xuyên, ….

Đặc biệt nhất là món rau Xau xau chấm mẻ chỉ có ở Vùng này

Đi chợ Đông kinh, chợ trung tâm Lạng Sơn

Sau đó tụi tui đi động Tam Thanh, thăm tượng nàng Tô Thị

Hai người đẹp đang trả giá mua hàng ở Chợ Kì Lừa – Đồng Đăng

Những bà cụ người dân tộc thiểu số bán thuốc nam ở động Nhị Thanh

Mấy chai rượu này được quảng cáo là “ông uống bà khen”

Hèn gì mấy ông cụ coi quá trời. Hổng biết bà cụ ở nhà có khen không chứ mấy bà cụ này khen ổng dữ lắm.

Trời ơ sao ế quá! Không ai mua hàng của tui vậy?

Và đi chợ Hữu nghị Lạng Sơn

Đây là biểu ngữ treo ở hữu nghị quan nêu lên mục tiêu của Việt Nam và Trung Quốc

Tạm chia tay Lạng Sơn. Hẹn gặp lại các bạn ở Hải Dương.

Thênh thang một cõi Bắc Hà

Vừa rồi, tui có một chuyến đi Hà Nội. Lần đầu tiên đi Bắc, bao ngỡ ngàng và lạ lẫm làm tui rất phấn khích.

Đầu tiên là đi máy bay. Lúc máy bay cất cánh bạn có cảm giác thế nào? Từ sân bay Cần Thơ, bạn bay lên sẽ thấy sông Hậu hiền hóa thế nào

Xin mời xem clip dưới đây:

Sau khi tới Hà Nội, tui được đưa đi Bắc Giang. Wa, từng nghe câu hát khi còn ngồi trên ghế nhà trường:

“Em là con gái Bắc Giang,

rét thì mặc rét nước làng em lo”

Chắc ở Bắc Giang lạnh lắm (may mà có chuẩn bị áo ấm). Đến nơi quả là vậy. Đầu hôm hơi lạnh, gần sáng không dám đưa chân ra khỏi mền (sợ bị biến thành nước đá). Món ăn sáng đầu tiên Ở Bắc Giang. Nhìn nè:

Một tô phở bò, một hột vịt lộn còn nóng hổi, một dĩa rau răm xanh rờn, một dĩa gừng vàng ươm, mấy miếng chanh tươi gọn ghẽ, ớt và muối. Đó là phần ăn dành cho 01 người. Quá ngon. Nước uống có hai loại tùy bạn chọn: trà nóng và rượu Làng Vân. Buổi sáng lạnh cắt da cắt thịt, ăn một hột vịt lộn còn nóng, hớp nửa ly rượu Làng Vân thấy cuộc đời mình sống có ý nghĩa biết bao. Ăn thêm bát phở bò no căng bụng thấy mình hơi phung phí … thôi kệ cảm xúc thoáng qua ấy mà (mai mốt về nhà không có mà ăn .. ở đó giả bộ – tui tự nói với mình)

Ở Bắc Giang được một ngày ăn uống nhiều thứ của ngon vật lạ. Khẩu vị không đến nỗi lạ như Hà Nội chắc có lẽ vùng này là trung du.

Hôm sau được đi Lạng Sơn. Xe đưa chúng tôi đi ngược lên hướng Bắc qua những huyện, những xã như Lạng Giang, Lạng Xương. Bất chợt nhớ đến câu văn trong bài Bình Ngô Đại cáo của Nguyễn Trãi:

“Lạng Giang, Lạng Xương thây chất đầy đường

Xương Giang, Bình Than máu trôi đỏ nước”

Câu văn gợi nhớ một thời anh hùng, nghĩa quân Lam Sơn đánh gặc Minh chết như rạ. Đi qua cửa Ải Chi Lăng, thấy lòng bùi ngùi (trời sao mà sến quá). Đây là cửa Ải Chi Lăng nơi tướng Liều Thăng bị chém đầu năm nào.

Đến Lạng Sơn, điều đầu tiên là được ăn ngon. Bàn ăn bày rất là nhiều thứ. Xem nè:

Trên này có Đậu hủ sốt chua, rau xau xau chấm mẻ, khâu nhục, Vịt quay Đông Kinh, cơm Tứ Xuyên, ….

Đặc biệt nhất là món rau Xau xau chấm mẻ chỉ có ở Vùng này

Đi chợ Đông kinh, chợ trung tâm Lạng Sơn

Sau đó tụi tui đi động Tam Thanh, thăm tượng nàng Tô Thị

Hai người ở Chợ Kì Lừa – Đồng Đăng

Những bà cụ người dân tộc thiểu số bán thuốc nam ở động Nhị Thanh

Mấy chai rượu này được quảng cáo là “ông uống bà khen”

Hèn gì mấy ông cụ coi quá trời. Hổng biết bà cụ ở nhà có khen không chứ mấy bà cụ này khen ổng dữ lắm.

Trời ơ sao ế quá! Không ai mua hàng của tui vậy?

Và đi chợ Hữu nghị Lạng Sơn

Đây là biểu ngữ treo ở hữu nghị quan nêu lên mục tiêu của Việt Nam và Trung Quốc

Tạm chia tay Lạng Sơn. Hẹn gặp lại các bạn ở Hải Dương.

Sự thực về môn Văn qua kì thi Đại học

Thi ĐH môn Văn: Quá nhiều bài viết “vẹt”, lảm nhảm vô hồn

Sau khi đã chấm hơn 1.000 bài thi môn Văn của thí sinh nhiều trường ĐH, thầy giáo Trần Hinh – giảng viên khoa Văn học, trường ĐH Khoa học xã hội và nhân văn (ĐH Quốc gia Hà Nội) đã thốt lên: "Tôi thất vọng!". Ông đã có cuộc trò chuyện với PV Báo Thanh Niên.

Chấm điểm môn Văn ở trường ĐH Sư phạm TP.HCM – Ảnh: Nhựt Quang

– Ông nhận xét như thế nào về các bài làm "câu hỏi mở" của thí sinh năm nay?

– Đây là năm đầu tiên đề thi ra dạng này, sau một thời gian dài vắng bóng. So với 2 câu khác trong đề thi thì đây là câu mà thí sinh (TS) làm nhợt nhạt nhất. Ví dụ, ở khối C thì TS giỏi văn viết khá hơn ở góc độ là đỡ ngây ngô và đỡ hô khẩu hiệu kiểu "trung thực, trung thực, trung thực". Còn lại, hầu hết các bài thi viết theo kiểu "vẹt" chứ không thể hiện được chính kiến. Thậm chí đề thi yêu cầu viết về sự trung thực nhưng TS lại viết không trung thực. Ví dụ một TS đã mở bài thế này: "Hôm qua, ngày cuối cùng đánh dấu một kỳ thi, bước ngoặt của cuộc đời một con người, một người bạn đã tỏ ý khuyên tôi mang tài liệu ruột mèo vào phòng thi. Tôi ậm ừ cho qua và phân vân xem có mang vào phòng thi không. Tối hôm đó khi đọc được bức thư của Lincoln  viết cho con trai mình…". Đọc xong chúng tôi không nhịn được cười. Có cán bộ chấm thi còn nói đùa: thế thì đề thi bị lộ à?!  

Một điều dễ nhận thấy nhất ở các bài làm của TS là cứ hỏi về cái gì thì các em lại "bốc" cái đó lên. Đa số TS cứ theo đà hô khẩu hiệu là chính, chứ không bài viết nào bày tỏ được ý kiến chân thành của các em. Ví dụ, khi đề yêu cầu viết về sự trung thực thì các em hết lời ca ngợi sự trung thực; viết về niềm tin thì không ngớt lời ca ngợi niềm tin… Ở đề thi khối C có câu nói của Lincoln  về sự trung thực, một TS đã viết: "Khi đọc xong câu nói của Lincoln  thì tôi cảm thấy ủng hộ với cách nghĩ của ông tổng thống người Mỹ đó. Không phải vì quyền cao, chức trọng mà ông cho phép mình và con trai của mình làm trái với luật lệ, trái với lương tâm…". Có những TS, cả bài viết chỉ ca ngợi Lincoln  một cách sáo rỗng như: "Chỉ với một câu nói, một ý kiến nhưng đã phản ánh cho ta đức tính cao quý, đáng trân trọng của một vị tổng thống". Chúng tôi đã bắt gặp rất nhiều những câu văn lảm nhảm, vô hồn như thế. Thậm chí, sau này báo chí phát hiện ra câu nói đó không phải của Tổng thống Lincoln  thì chúng tôi lại càng cảm thấy buồn cười.

– Có bài nào được đánh giá là sáng tạo và được điểm cao không thưa ông?

– Những bài văn tôi đã chấm thì ít lắm. Điểm cao thì cũng có, nhưng rất ít bài có sáng tạo đặc biệt. Chúng tôi cũng chỉ chấm để phân biệt được cái văn thật, văn giả của TS mà thôi. Với những bài được điểm cao thì hầu hết là do diễn đạt suôn sẻ, gãy gọn, chứ chưa có em nào thể hiện được chính kiến và không có gì "sáng chói" cả. Có TS được đánh giá là có vẻ sáng tạo trong làm bài thì chúng tôi lại nghi ngờ về sự "trung thực". Cứ như là họ đang "diễn". Chẳng hạn, kể về sự trung thực khi ở nhà, có em đã bịa ra một câu chuyện rằng: "Có lần em rủ bạn đến chơi, không may bạn làm vỡ cái lọ hoa. Khi bố mẹ về nhà đáng lẽ là em phải nói là bạn làm vỡ nhưng em lại nói là con mèo làm vỡ, sau đó em cứ ân hận mãi…"!

Theo tôi, cũng không thể trách được vì hầu hết các em đã được học theo khuôn mẫu từ những năm lớp 1. Ít khi các em được làm bài văn theo kiểu phản đề. Trong cuộc sống cũng vậy, các em cũng ít khi được thể hiện chính kiến. Các em thường được giáo dục là phải nói đúng theo cái này, nói đúng theo cái kia. Thế nên thói quen đó đã ăn sâu và suy nghĩ của các em mất rồi. 

Còn một lý do khác tôi nghĩ cũng là do đề thi, vì năm nay là năm đầu tiên thử nghiệm dạng đề này, Bộ thì lại muốn phải đổi mới, mà đổi mới thì không thể chỉ ở các thầy ra đề, cần phải có sự thay đổi đồng bộ, cả từ phía học sinh, cả bên ngoài xã hội… Đằng này, nói là "đề mở", nhưng người ra đề lại gần như đã kết luận là cần phải viết như thế nào rồi: viết về trung thực, viết về niềm tin, viết về tác dụng của việc đọc sách… thì học sinh làm sao có thể viết ngược lại, họ chưa thể có đủ bản lĩnh để phản biện lại. Nghĩa là ngay từ đề đã "đóng". Thế nên khó có thể yêu cầu TS có một bài làm sáng tạo được. 

– Vậy kết quả bài làm của TS năm nay như thế nào?

– Tôi phát biểu theo quan điểm của riêng mình: Tôi thất vọng về kết quả thi môn Văn năm nay. Bởi lẽ đây là năm đầu tiên lứa TS được học theo chương trình mới, học theo chương trình sách giáo khoa tích hợp, đúng ra phải có được kết quả khả quan, tiến bộ, sáng tạo và linh hoạt hơn. Vậy nhưng lại chẳng thấy có tiến bộ gì. Thậm chí kết quả môn Văn năm nay thấp hơn mọi năm do chất lượng làm bài kém hơn. Có thể do đề thi văn có tới gần 50% nội dung của chương trình mới nên nhiều TS tự do chưa được học và đã không làm được bài. 

Hơn nữa, theo tôi, cách dạy văn của các trường hiện nay vẫn theo lối mòn. Giáo viên thì phải chạy theo chương trình, dạy cho đủ khối lượng nên ít có thời gian dạy cho TS được những cái sáng tạo. Còn học sinh thì cũng không có thời gian và không gian để phát biểu chính kiến. Vì vậy, không dễ dàng mà hy vọng việc ra đề thi như vừa rồi sẽ thay đổi được cách dạy và học văn hiện nay. Đó là chưa nói việc chấm văn cũng vẫn phải tuân thủ theo một đáp án đóng. Tôi e rằng, sang năm lại có một loạt sách hướng dẫn về cách làm những bài văn theo kiểu "đề mở" như năm nay. 

Theo Vũ Thơ (Thanh Niên)

CƠM TẤM – CHÚT TÂM TƯ

Đằng sau dĩa cơm tấm

Người dân Nam bộ, đặc biệt là vùng Sài Gòn và miền Tây, rất thích ăn cơm tấm (tui cũng vậy). Đi Hà Nội chừng 10 ngày là nhớ hương vị dĩa cơm tấm ghê hồn, lúc đó mà có ai bán một dĩa 50 ngàn dám mua thiệt lắm. Lúc đó mới biết cái chất cơm tấm nó đã ngấm vào con người mình. Tui tự hỏi (các bạn đừng lấy làm lạ, tui hay như vậy lắm): tại sao người miền Bắc không có thói quen ăn cơm vào buổi điểm tâm sáng, đặc biệt là cơm sườn hay cơm tấm như trong miền Nam. Đa số là phở và các món mì (gói), hoặc xôi dành cho người bình dân, sinh viên. Đặc biệt là xôi miền Bắc ngon hơn xôi Nam bộ, nhưng vụ xôi này chắc bàn dịp khác nghen.

Trở lại vụ cơm tấm. Tui thấy mình phải có “trách nhiệm” đi “điều tra” cái sở thích của dân Nam bộ. Tui search trên mạng với hai từ “cơm tấm” thì thấy hiện ra khá nhiều biển quảng cáo các hiệu cơm tấm của Sài Gòn. Có một ít bài viết giới thiệu về xuất xứ và cách chế biến cơm tấm (thấy cũng dễ lắm, bữa nào làm xong mời mọi người lại thử). Mấy cái đó cũng khá hay nhưng đọc xong thấy trong người nhẹ hều, nghĩa là lòng mình chưa đọng lại một cái gì đó làm mình phải suy nghĩ. Ý tui muốn là phải có bài viết gì đó sâu sâu một chút, phải đi đến phía đằng sau dĩa cơm là một nét văn hóa, một chút tình người, một mảng đời sống nào đó của người Nam bộ (nói vậy chớ mình viết nhiều khi còn tệ hơn người ta). Tui nghĩ mãi, cuối cùng bạo dạn nêu lên mấy suy nghĩ như vầy.

Người dân Nam bộ vốn sống với đồng ruộng, nói cho oai là văn hóa nông nghiệp lúa nước (điều này cũng giống phía Bắc), khi xưa trong vùng đồng quê, ông bà mình ăn cơm ngày 3 bữa (sáng, trưa, chiều). Hầu như là cơm, không có thứ gì khác. Ở vùng thành thị nhiều gia đình nghèo sáng vẫn nấu/ rang cơm cho con cái vợ chồng ăn. Bữa ăn người Việt mình căn bản là thực vật, nếu thêm nữa là con cá, con tép bắt được từ ruộng đồng. Thịt gia cầm, gia súc chỉ xuất hiện trong những bữa cỗ tiệc, hội hè. Đầu thế kỉ 20, ở Nam bộ, chợ búa của những ngôi làng người Việt xưa kia chủ yếu là mua vải vóc, dầu lửa, nhang đèn, kim chỉ, trang sức … chứ ít khi người dân đi chợ mua thức ăn như bây giờ. Nói tóm lại, vì đời sống nông nghiệp gắn liền với mảnh ruộng, bờ sông nên người dân Nam bộ lấy cơm làm thức ăn chính trong cả ngày.

Trong hạt lúa, khi xay xát ra, sẽ có 3 loại: trấu, cám, gạo và tấm. Tấm gồm có hai thành phần. Phần thứ nhất là cái mầm trong hạt lúa (nằm ở đầu của một hạt), mầm này nhỏ khoảng 1/10 hạt lúa, sau này thành phôi, cây lúa mọc ra ở đây. Vì là yếu tố giúp hạt lúa tiếp tục sinh trưởng nên cái mầm nhỏ ấy có chất lượng rất ngon, ngọt hơn hạt gạo, không nở như gạo. Khi xưa lúc máy xay xát chưa có, người dân dùng cối xay lúa, rồi dùng sàng để lọc thì mấy cái mầm này rơi xuống nia, người ta gọi là “tấm mẳn”. Còn gạo thì cất đi rồi. Nếu chịu khó sàng lọc và lựa đi phần cám, sẽ còn lại phần tấm mẳn. Đem thứ này đi nấu lên rất ngon, chỉ để dành cho những người có địa vị cao trong xóm làng (vì loại này rất ít). Cơm tấm mẳn này ăn không bị ngán vì hạt cơm khô, bùi bùi. Do đó, cơm tấm mẳn vốn có từ xưa (chắc ngoài miền Bắc cũng có). Phần thứ hai của tấm là những hạt gạo bị vỡ ra trong quá trình xay xát bằng máy móc công nghiệp, phần này lẫn lộn với cái mầm nói khi nãy thành một thứ người ta gọi là tấm. Vì tấm không còn nguyên nên ăn có cảm giác cũng như tấm mẳn. Thế là người ta nấu cơm tấm để ăn trong bữa điểm tâm sáng (cho đỡ ngán). Cho nên cơm tấm sẽ đáp ứng được nhu cầu “ăn cơm” vào buổi sáng theo truyền thống của bà con mình, vừa đáp ứng nhu cầu ăn nhẹ, không được ngán nhưng phải no của những người bình dân thành thị vốn làm những nghề năng nhọc, cần chắc dạ để bưng bê khiêng vác. Wa, thế là cơm tấm ra đời.

Bây giờ thì tui tự hỏi: sao người ta ăn cơm tấm bằng dĩa mà không ăn bằng chén. Vụ này phải trở lại lịch sử chút xíu.

Khi thực dân Pháp chiếm Nam bộ, các vùng thành thị mọc lên, văn hóa phương Tây cũng bắt đầu truyền sang Việt Nam, trong đó có vấn đề ăn nhậu … (ý quên) ăn uống. Dĩa cơm tấm chính là sản phẩm của sự dung hòa giữa văn hóa ăn uống theo nông nghiệp Việt Nam với văn hóa ăn uống công nghiệp phương Tây. Người Pháp có nguồn gốc từ nền văn minh Hy lạp – La Mã, coi trọng dân chủ, đề cao cái tôi cá nhân, coi trọng sức mạnh. Bữa ăn của người Phương tây chủ yếu là thịt gia cầm, gia súc, trứng, sữa; ngũ cốc chiếm phần thứ yếu. Khi ăn, nếu như người Việt Nam coi trọng tính cộng đồng (các món ăn đặt trong một tô/ chén để mọi người cùng dùng đũa gắp đặt vào chén cơm của mình, nước chấm thì cả nhà cũng chấm chung) thì người phương Tây coi trọng tính độc lập, tự trị (mỗi người có một bộ gồm dĩa, dao, nĩa, muỗng riêng; thức ăn của ai người ấy dùng dao, nĩa tự “xử lí” – giống như nhiều món ăn bây giờ vậy mà). Người Pháp có thói quen ăn thịt theo nguyên miếng lớn, rồi dùng dao tự xẻ ra, người Việt thì thịt xắc nhỏ trước rồi đem kho lên mỗi người gắp một miếng (nghe nói hấp dẫn quá).

Bây giờ trở lại vụ cơm tấm. Vì sao đa số người dân Nam bộ lại ăn cơm tấm bằng dĩa mà ít ăn bằng chén. Chắc chắn cái này có nguồn gốc từ vùng đô thị Sài Gòn hay các đô thi miền Nam có nhiều người Pháp sinh sống. Những nhà hàng, quán ăn phục vụ đối tượng này phải chiều thói quen của khách phương Tây (ăn bằng dĩa) nhưng không có dao (chắc tại ở nước mình ít thịt gia súc và ít có người chịu chế biến kiều miếng bự của Tây). Lâu dần, cái thói quen buôn bán bằng dĩa cũng phục vụ luôn cho người Việt (không lẽ ở không đi sắm bộ chén tô để phục vụ riêng cho người Việt). Món cơm bình thường của người dân Nam bộ (như đã nói ở trên) bây giờ được bày bán để đáp ứng nhu cầu của người bình dân (thợ trong các nhà máy, bán báo, đánh giày, buôn bán nhỏ…). Thấy người Tây ăn miếng thịt to, mình cũng chế ra một miếng vừa vừa, ướp gia vị theo kiểu mình, nướng lên cho chín bay mùi khắp nơi, đặt lên dĩa cơm phục vụ dân mình. Thật hấp dẫn. Nhưng cái khác của người Việt trong dĩa cơm nói riêng và cơm tấm nói chung so với cách ăn phương Tây là chén nước chấm. Đó là cái gốc Việt Nam (người Tây ăn nước sốt). Nước chấm sau này còn quyết định đẳng cấp của quán cơm sau cái bí kíp nướng thịt. Nói thêm một chút về dĩa cơm tấm hiện nay: Ở Sóc Trăng khi bán cơm tấm người ta thường có thêm một chén nước súp, ở Sài Gòn ko thấy có thói quen này.

Thế là dĩa cơm tấm ra đời, sau một cuộc xâm lược, giết chóc, đô hộ. Nói cái này nghe ghê quá nhưng tui chắc là vậy. Có ai cao minh xin mời chứng minh theo kiểu khác thì tui phục!

Đằng sau dĩa cơm tấm là một nền văn hóa mang đậm tính phóng khoáng, dân dã, cởi mở của người Nam bộ. Vốn dể thích nghi với cái mới, vốn coi trọng sự tiện lợi nên người dân ở đây đã tiếp thu một nét văn hóa người nước ngoài để củng cố và làm đẹp thêm một thói quen ăn uống của mình. Đối diện với một dĩa cơm tấm, tui cảm thấy phấn khích vì mình được căn một món ngon, mình được thưởng thức cả một nền văn hóa mà nếu chỉ vì miếng ăn cho no bụng ta sẽ dễ hời hợt và lãng quên. Nói cao xa một chút, trong vị ngọt của miếng thịt nướng có cả một lòng bao dung cởi mở; trong vị chua của các loại dưa chua có hình bóng của nền văn hóa nông nghiệp bao đời; trong vị béo giòn của miếng bì có sự dung hòa văn hóa của dân tộc Hoa – Việt (bì vốn của người Hoa); và trong vị mặn mà béo của miếng chả có sự linh hoạt của nền văn hóa ẩm thực Việt Nam./.

Bài báo gây xúc động lòng người

Kết cục đau lòng của anh hùng nghĩa hiệp

“Mọi người đừng như thế, con không sao đâu, con không giết người…”, người thanh niên vừa tra tay vào còng vừa cố mỉm cười với đám người đang vật vã khóc lóc sau lưng nhóm cảnh sát tư pháp trong giờ nghị án.

Thế nhưng, khi bóng những thân vừa khuất sau cánh cửa, anh đã đổ gục xuống băng ghế như cái cây bị vạt gốc. Mái tóc bồng bềnh nghệ sỹ phất phơ trước vành móng ngựa, đôi vai rộng chốc chốc lại run lên. Xung quanh, vài cán bộ công an không giấu được ánh nhìn đầy ái ngại.

“Giá như lúc xảy ra tai nạn, cậu ấy báo chính quyền địa phương hay cảnh sát giao thông đến xử lý thì hậu quả đâu thê thảm như ngày hôm nay. Một mạng người nằm xuống, còn mình thì phải đối diện với tội giết người”, vị đại úy già khẽ chép miệng thương xót. Có lẽ vì thế mà nhà báo được phép tiếp cận với bị cáo Nguyễn Hoàng Phúc (29 tuổi) dễ dàng hơn – điều mà trong nguyên tắc dẫn giải không được phép.

Chiều ngày 7/10/2007, do có chút men trong người nên khi điều khiển xe vận tải nhẹ trên đường Lê Đức Thọ (quận 12), tài xế Lưu Hồng đã để xe va chạm với một xe máy chạy cùng chiều khiến người này ngã nhào xuống đường. Tuy nhiên, Hồng đã bỏ chạy và tiếp tục gây tai nạn cho một người khác rồi kéo lê chiếc xe máy của nạn nhân một đoạn đường dài.

Lúc này, Nguyễn Hoàng Phúc đang đi cùng với một người bạn. Phát hiện sự việc, Phúc quay đầu xe cùng với người dân gần đấy đuổi theo chiếc xe vận tải nhẹ. Đến ngã tư Lê Văn Thọ – Phạm Văn Chiêu, Hồng lại để xe của mình đụng vào xe máy do hai thanh niên chở nhau khiến họ ngã xuống đường. Cùng lúc đó, Phúc và mọi người cũng vừa đuổi đến, yêu cầu Hồng xuống xe giải quyết. Người bạn đi chung với Phúc do quá tức giận trước hành vi của Hồng nên đã ném 2 viên gạch trúng tay tài xế.

Thấy vậy, Hồng tiếp tục rú ga bỏ chạy khiến mọi người tiếp tục cuộc rượt đuổi. Khi đến công ty Huê Phong (quận Gò Vấp), Lưu Hồng cho xe chạy thẳng vào bên trong. Thấy những người đuổi theo nói rằng xe tải đó gây tai nạn chết người nên bảo vệ công ty đã cho vào. Lúc này, Phúc yêu cầu Hồng xuống nói chuyện nhưng người tài xế nhất định không xuống.

Quá tức giận, Phúc chạy lại gần đấy lấy một bình chữa cháy ném thẳng vào kính chắn gió của chiếc xe tải khiến tấm kính vỡ tan, đập vào thái dương của Lưu Hồng khiến người này gục tại chỗ. Phúc tiếp tục lấy thêm một bình chữa cháy khác ném vào hông xe tải và đuổi theo đánh người phụ xế vừa rời khỏi xe.

Trong khi đó, những người khác cũng vừa đến nơi. Mọi người lôi Lưu Hồng ra khỏi vô lăng đấm đá cho hả giận. Tuy nhiên, khi thấy người tài xế nằm bất động, họ đã đưa đến bệnh viện cứu chữa nhưng đã không kịp. Giám định pháp y kết luận, Lưu Hồng chết do chấn thương sọ não nặng. Hai ngày sau, Phúc bị bắt. Những người tham gia vào sự việc cũng bị mời lên nhưng do không có chứng cứ buộc tội nên cơ quan công an chỉ xử lý hành chính.

Suốt phiên xử, Phúc thường quay nhìn người thân buồn bã. Ảnh: A.X.

Ngày 26/5, TAND TP HCM đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm. Phúc khổ sở khai nhận tất cả sự việc xảy ra vào cái hôm định mệnh ấy. Thế nhưng, trong tiếng khóc tức tưởi của gia đình người bị hại, Phúc vẫn một mực khẩn khoản: “Mong tòa xem xét lại, bị cáo không có ý chối tội, nhưng cái chết của anh Hồng không thể nào do một mình bị cáo gây ra. Bị cáo có trách nhiệm trong cái chết của anh ấy nhưng bị cáo không cố ý giết người”.

Giờ nghị án trôi qua chậm chạp, Phúc vẫn cúi đầu lặng lẽ trên băng ghế dài thượt. Bỗng ngoài hiên cửa vẳng vào tiếng nức nở: “Nếu chồng tôi gây tai nạn cho người ta thì để pháp luật xử lý, chứ đừng để mấy thằng côn đồ này nó giết”.

Giật mình vì câu nói đó nhắm vào mình, Phúc chầm chậm đưa tay vuốt mặt rồi buông tiếng thở dài đến não nuột. Khẽ nhíu đôi lông mày rậm đậm nét đàn ông, ánh mắt buồn u uất, anh nói, đây không phải là lần đầu tiên anh tham gia vào chuyện của người khác. Trước đây, Phúc đã hai lần cùng với người dân truy đuổi bắt cướp trên đường phố để lấy lại tài sản cho các nạn nhân.

Hôm xảy ra sự việc, vợ Phúc mới sinh đứa con thứ hai. Đang trên đường từ bệnh viện về nhà lấy quần áo cho vợ con thì Phúc gặp chiếc “xe điên” của Lưu Hồng. Anh tận mắt chứng kiến chiếc xe này liên tiếp gây tai nạn cho nhiều người nhưng vẫn hung hãn phóng đi với tốc độ kinh hoàng nên rất bức xúc. Lúc đầu, thấy đã có người đuổi theo, anh đã định mặc kệ vì công việc gia đình còn quá bề bộn. Thế nhưng, lại thấy người tài xế quá hung tợn khi lao thẳng xe vào đuôi những chiếc xe chặn bắt, Phúc đã không đành lòng ngó lơ.

“Những ngày bị giam giữ là quãng thời gian khủng khiếp nhất trong cuộc đời tôi. Nỗi ám ảnh về cái chết của anh Hồng cứ đeo bám tôi không rời. Nửa hối hận, nửa bất phục vì tôi không tin là mình gây ra cái chết cho anh ấy. Thế nhưng, trong lòng tôi lại luôn mong có một ngày được nói lời tạ tội với gia đình nạn nhân. Anh ấy cũng có một đứa con nhỏ…”, người đàn ông, nghẹn giọng, ánh mắt đỏ hoe.

Hôm đó, TAND TP HCM đã tuyên phạt Nguyễn Hoàng Phúc mức án 7 năm 6 tháng tù về các tội “giết người” và “cố ý làm hư hỏng tài sản”. Tra tay vào còng, Phúc quay đầu nói nhanh với người vợ trẻ: “Anh sẽ chống án, dù tòa phúc thẩm có xử nặng hơn anh cũng chấp nhận nhưng anh không phải kẻ giết người…”

Chiếc xe bít bùng hụ còi lao vút đi, người vợ trẻ đổ vật xuống sân tòa ngập nắng, thổn thức: “Em biết nuôi dạy các con thế nào đây? Có lẽ nào lại để chúng phải trả giá vì lòng tốt của cha?…”

Vũ Mai

(nguồn: vnexpress.net)

Lời bình của Lam:
Có lẽ bất cứ người Việt Nam nào được giáo dục đàng hoàng, được học hành tử tế cũng để có lòng trắc ẩn trước tình cảnh của nhân vật chính trong bài báo. Trong pháp luật nước ta và nhiều nước trên thế giời đều có khoản luận tội dảnh cho tội danh "giết người" nhưng sẽ không có khoản nào dành cho "giết người vì lòng trắc ẩn". Thời nhà Tống, Bao Chửng nổi tiếng là thanh thiên mà vẫn phải thốt lên: "giết người thì là giết người, cho dù vì bất cứ vì lí do gì cũng là có tội". Xưa nay có bao nhiêu nước mắt nhân loại nhỏ xuống để thương xót cho kiếp nhân sinh thì cũng có bấy nhiêu nước mắt nhỏ xuống khác cho những oan tình không bao giờ xét xử được. Nỗi đau của người phụ nữ có chồng là tài xế bị giết không thể so sánh với nỗi đau của người vợ anh Phúc khi nói câu "Em biết nuôi dạy các con thế nào đây? Có lẽ nào lại để chúng phải trả giá vì lòng tốt của cha". Cả hai nỗi đau ấy đều làm người ta nao lòng và không thể so sánh. Đấy là một phần trong nỗi đau chung của nhân loại.

Ta vốn nòi tình – Thương người đồng điệu

Nhà thơ Nguyễn Du, bậc đại thi hào của Việt Nam, từng viết trong truyện Kiều:

"Cùng trong một tiếng tơ đồng
Người ngoài cười nụ, người trong khóc thầm"
Tôi thích câu thơ đấy và tôi cũng day dứt trong bao năm qua về ba chữ "tiếng tơ đồng". Tiếng tơ đồng tức là tiếng đàn của Thúy Kiều khảy phục vụ cho Thúc Sinh và Hoạn Thư. Thuý Kiều là người làu thông âm nhạc, văn chương; có thể coi là một nghệ sĩ. Người nghệ sĩ có hai cuộc sống: đời thực và nghệ thuật. Trong cuộc sống đời thường, ít khi người nghệ sĩ được coi trọng. Trong cuộc sống nghệ thuật, người nghệ sĩ cũng cảm thấy bơ vơ vì thiếu người tri âm. Tôi cũng là một người thích nghệ thuật, hoạt động văn chương, vào loại "thường thường bậc trung". Tự thấy mình cũng hạng người nghiêng về "tình", nên viết những dòng này mong tìm người đồng điệu.
Trân trọng!