Blog

Bối cảnh-một định hướng nghiên cứu văn học nhiều triển vọng

BT12

Thuật ngữ “bối cảnh” bắt nguồn từ tiếng La-tinh “textere”, vốn có nghĩa là “hành động dệt”. Trong một nghĩa rộng hơn, “bối cảnh” là tất cả những gì đi cùng với văn bản. Một văn bản, giống như một mảnh vải, được “dệt” thành từ tình huống của một sự diễn xướng được bố trí sẵn (mà trong đó gồm): người nghe, người trình diễn, những nền tảng kiến thức và hiểu biết của một nhóm người có tính xã hội, và nền tảng văn hoá của người kể/hát lẫn người nghe. Cụ thể là từ nhừng năm 1960, khi mà các nhà folklore nhấn mạnh yếu tố trình diễn nhằm đáp ứng việc phát triển trong lĩnh vực ngôn ngữ học xã hội thì bối cảnh đã được sử dụng như là một khái niệm có tính phân tích, làm trọng tâm để khám phá những điều kiện mà các tư liệu folklore đã được sáng tạo, lưu truyền và tiếp nhận. Bởi vì được sử dụng trong lĩnh vực nghiên cứu folklore nên cách nghiên cứu theo bối cảnh cố gắng làm cho các tư liệu folklore đạt được tính dễ hiểu, thấu đáo và toàn diện hơn là mô tả hay chỉ giải thích.

Việc hiểu khái niệm bối cảnh là nhờ vào sự phát triển của ngành Nhân học Văn hoá, đặc biệt là sự đóng góp của Bronislaw Malinowski, ông đã tìm ra cách nghiên cứu folklore thông qua công trình của William Bascom. Các khái niệm “bối cảnh tình huống” và “bối cảnh văn hoá” của Malinowski, vốn được coi là yếu tố tối cần thiết để hiểu một văn bản, đã thu hút sự chú ý (của mọi người) vào cả những tình huống cụ thể (mà một văn bản sẽ được sáng tác hay diễn xướng) lẫn những hệ thống văn hoá lớn hơn (mà văn bản là một phần trong đó). Những quan niệm về bối cảnh và tầm quan trong của nó trong việc hiểu văn bản đòi hỏi cần có một cấp độ mới của việc phân tích và chuyển hướng chú ý của các nhà nghiên cứu folklore từ chức năng sang ý nghĩa, từ giải thích sang thông diễn. Alan Dundes yêu cầu làm sáng tỏ bản chất của bối cảnh bằng cách đặt bối cảnh trong mối quan hệ với các khái niệm “văn bản” (một phiên bản đơn lẻ của một tiết mục folklore) và “kết cấu” (những yếu tố thuộc về cấu trúc ngôn ngữ của văn bản). Theo Dundes, bối cảnh của một tiết mục folklore là một hoàn cảnh xã hội đặc biệt mà trong đó, các tiết mục cụ thể được sử dụng thực tế [Dundes, tr.23]. Dundes đã khẳng định rằng văn bản và những yếu tố liên quan phải được hiểu không chỉ là có mối quan hệ với bối cảnh mà còn bị bối cảnh gây ảnh hưởng. Do vậy, trong lĩnh vực sưu tầm folklore, tài liệu được tìm hiểu không chỉ là văn bản mà còn là bối cảnh bởi lẽ bối cảnh sẽ cung cấp cho chúng ta câu trả lời cho câu hỏi: điều gì quan trọng trong văn bản và tại sao chúng được sử dụng trong hoàn cảnh xã hội đó. Việc phân tích [các vấn đề] ai kể, kể cái gì, kể với ai, kể khi nào và kể trong hoàn cảnh nào cho phép chúng ta hiểu được tại sao văn bản có một cấu trúc hình thức như vậy. Ngoài ra, theo Dundes, việc bối cảnh định hướng cho văn bản là một bằng chứng cho thấy hiểu biết về bối cảnh có thể giải thích sự biến đổi bên trong của văn bản và kết cấu [Dundes, tr. 27]. hiểu rõ bối cảnh hơn sẽ cho phép người nghiên cứu hiểu vì sao có sự khác nhau trong số nhiều câu chuyện cùng loại.

Bối cảnh có liên quan đến hành động kể chuyện một cách rất hữu cơ, rõ ràng. Áp dụng mô hình ngôn ngữ vào hoạt động giao tiếp trong một tình huống kể chuyện, từ năm 1969, Robert A. Georges đã nhấn mạnh rằng: thông điệp của mỗi tình huống kể chuyện được định hướng do sự tương tác/ tiếp xúc giữa người kể và người nghe trong sự tham chiếu với mối quan hệ tương tác có tính xã hội giữa họ, mà hoàn cảnh đó vốn là độc đáo duy nhất cho mỗi dịp kể chuyện. Tuy nhiên, vai trò của bối cảnh trong kể chuyện đã được biết đến rất rõ từ trước thập niên 60 của thế kỉ XX. Đại diện cho quan niệm nghiên cứu bối cảnh ở Đông Âu, Mark Azadovskii đã nhấn mạnh vai trò của người kể trong quá trình kể chuyện vào khoảng thời gian sớm hơn năm 1926 trong bài viết Einc Sibirische Marchenerzahlerin, qua lời giới thiệu cho lần hiệu đính tuyển tập truyện cổ tích sưu tầm ở vùng cao Lenar ở Irkutsk vào năm 1925. Được dịch sang tiếng Anh vào năm 1974 với nhan đề A Siberian Tale Teller, công trình có tính tiên phong của Azadovskii đã tìm thấy sự cộng hưởng trong số các nhà nghiên cứu folklore Hoa Kỳ vốn chỉ ở thập niên 1980. Azadovskii trình bày một hình ảnh về người kể chuyện có tính cách mạng, đặc biệt là Natalia Vinoukurova, một người mù chữ đã cung cấp cho Azadovskii hơn 50 truyện kể. Trong số các nhân vật xuất hiện trong truyện kể của Vinoukurova, có những người lang thang cơ nhỡ, mà một số trong đó là tù nhân ở vùng Upper Lena. Bằng cách phân tích các mô-típ cụ thể trong các truyện của Vinokurova, Azadovskiikhám phá ra rằng, một số môtíp hình thành từ bối cảnh lịch sử cụ thể và sự diễn xướng của người kể chuyện phụ thuộc rất lớn vào tình trạng tâm lí của người kể.

Linda Dégh là một nhà khoa học khác đại diện cho trường phái Đông Âu trong việc nghiên cứu bối cảnh. Trong quyển, Folktales and Society, xuất bản lần đầu ở Đức năm 1962 và được dịch sang tiếng Anh năm 1969, Dégh tập trung vào mối quan hệ giữa truyện kể, người kể và xã hội. Công trình nghiên cứu của bà đã cho thấy sự ảnh hưởng của cá tính và địa vị xã hội của người kể chuyện vào văn bản của truyện kể và giải thích rõ khái niệm “tính ổn định” và “tính liên tục” trong truyền thống. Tính liên tục, một khi nảy sinh, phụ thuộc vào người kể lẫn người nghe đóng vai trò then chốt trong bối cảnh xã hội. Dù người kể nói câu chuyện yêu thích của họ nhưng người nghe không cảm thấy hứng thú với câu chuyện đó thì nó sẽ không hề lưu dấu vết trong kho tàng truyện truyền thống. Bằng cách truy tìm những truyện kể khác mà nó có khả năng khơi gợi sự chú ý của tác giả, người kể duy trì vốn truyện kể trong vốn truyện của họ.

Những nhà nghiên cứu loại tự sự dân gian trước đây đã ngấm ngầm nhận ra rằng truyện dân gian có thể được định hướng bởi cái mà bây giờ chúng ta gọi là “bối cảnh” khi mà các học giả ấy đã xem truyện kể như là sự biểu hiện/ hiện thân của xã hội, văn hoá, và đặc tính dân tộc. Dựa vào các công trình của tác giả người Đức Joham Gottfried Herder ở thế kỉ XVIII và của anh em nhà Grimmm vào thế kỉ XIX, phong cách của truyện kể dân gian có nguồn gốc từ những bối cảnh xã hội và những bối cảnh văn hoá mà tác phẩm được sáng tác. Herder chứng minh rằng văn học dân gian mang ơn những người nông dân vốn gần gũi với tự nhiên trong việc hình thành phong cách của nó. Ngày nay – với sự trỗi dậy của các phương pháp nhân học văn hoá, các phương pháp tiếp cận dân tộc học và các phương pháp lịch sử, xã hội, nghiên cứu văn hoá và phong trào văn hoá xã hội như Nữ quyền – các nhà nghiên cứu đã chọn lựa được một bối cảnh rộng hơn của xã hội, văn hoá và các yếu tố tình huống đưa vào nghiên cứu khi xem xét. Điều đó còn bao gồm cả tuổi tác, giới tính, dân tộc, giai cấp, tình trạng kinh tế, xã hội của người kể lẫn người nghe. Tất cả những yếu tố đó đóng vai trò trong việc khám phá hình thức, ý nghĩa và chức năng của tư liệu truyện kể.

(Huỳnh Vũ Lam dịch từ “Donald Haase (2008), The Greenwood Encyclopedia of Folktales and Fairy Tales, Greenwood Press, USA)

Về tên một ngôi trường trung học phổ thông ở thành phố Sóc Trăng – viết hoa thế nào mới đúng?

Trong nguyên tắc viết hoa tiếng Việt, có một vài trường hợp nếu không tính kĩ, sẽ viết không chuẩn. Mà viết không chuẩn là biểu hiện của cách hiểu sai, mà hiểu sai trong văn bản hành chính thì đôi khi hậu quả sẽ nghiêm trọng. Cách viết hoa tên trường trung học phổ thông (THPT) Thành Phố Sóc Trăng là một trường hợp như thế. Nếu viết in hoa thì không có gì đáng nói, nhưng nếu chỉ viết hoa trong văn bản hành chính, tên trường bắt đầu có sự khác biệt.

Trong quyết định thành lập trường, do UBND tỉnh Sóc Trăng kí, tên trường được viết là: “Trung học phổ thông thành phố Sóc Trăng”

Trong các văn bản của Thành ủy Sóc Trăng, thì tên trường được viết là trường “THPT Thành Phố

Trong các văn bản của sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Sóc Trăng, tên trường đươc viết là “THPT Thành Phố Sóc Trăng”

Như vậy cách viết nào đúng? Góc nhìn sẽ quyết định cách viết đúng hay sai.

Nếu xem ngôi trường cấp trung học phổ thông nằm ở số 1115 đường Trần Hưng Đạo hiện nay là trường của thành phố Sóc Trăng, do UBND thành phố chi ngân sách để xây, phục vụ cho con em địa phương có một nơi để học tiếp sau khi tốt nghiệp THCS thì cụm từ “Thành phố Sóc Trăng” là đơn vị hành chính, không phải tên riêng. Các phòng ban ngành thuộc UBND thành phố đều được viết là đơn vị hành chính: viết hoa chữ cái đầu tiên của từ (Thành phố). Do đó, cách viết của UBND tỉnh Sóc Trăng (THPT thành phố Sóc Trăng) và Thành ủy (THPT Thành Phố) là đúng và hợp lí. Và nếu hiểu theo hướng này, trường THPT thành phố Sóc Trăng không tương đương với trường THPT Hoàng Diệu, hay các trường THPT trên địa bàn thành phố vì trường này là trường “của” thành phố còn mấy trường kia là trường “của” Sở Giáo dục và Đào tạo.

Tuy nhiên, sự thật không phải như vậy. Sở Giáo dục Đào tạo có lí do khi viết “trường THPT Thành Phố Sóc Trăng”. Với cách viết này, Sở đã căn cứ vào Điều lệ trường THPT của Bộ Giáo dục và Đào tạo và các quy định về viết hoa tên riêng của Chính phủ. Đây là trường cấp trung học phổ thông trong tỉnh Sóc Trăng, đặt trên địa bàn thành phố Sóc Trăng do sở Giáo dục và Đào tạo quản lí cho dù người chi ngân sách để xây dựng là sở hay UBND thành phố Sóc Trăng. Khi là trường THPT do sở Giáo dục quản lí thì hiểu là trường cấp tỉnh, không phải là trường địa phương. Theo điều lệ, trong nguyên tắc gọi tên trường sẽ có 2 phần: 1) tên của cấp học (trường trung học phổ thông) 2) tên riêng của cơ sở giáo dục (Thành Phố Sóc Trăng). Đến đây, cụm từ “Thành Phố Sóc Trăng” không còn mang tư cách là đơn vị hành chính mà trở thành tên riêng của trường. Mà tên riêng thì phải viết hoa tất cả các chữ cái đầu của các thành tố.

Ở đây cần mở rộng thêm với cách đặt tên trường ở các huyện. Trong tỉnh có các trường THPT sau đây lấy tên địa danh huyện làm tên riêng: Mỹ Xuyên, Kế Sách, Trần Đề, Ngã Năm; và địa danh xã làm tên riêng: Mỹ Thuận, Long Hưng, Hòa Tú, Ngọc Tố, An Lạc Thôn, Đại Ngãi, Lịch Hội Thượng, Lai Hòa, Khánh Hòa, Thuận Hòa, Phú Tâm. Tất cả các trường đó đều chỉ lấy tên riêng của huyện và xã làm tên riêng của trường, không kèm vào đơn vị hành chính (huyện/ xã). Nghĩa là các địa danh đó trở thành tên riêng của trường, không còn địa danh hành chính. Tới đây một câu hỏi đặt ra là tại sao không đặt là “trường THPT Sóc Trăng” giống như các trường ở huyện mà phải có thêm đơn vị hành chính vào cho rắc rối. Lí do, có nhiều người cho rằng Sóc Trăng là tên tỉnh, nếu chỉ gọi là THPT Sóc Trăng, e nội hàm nó rộng quá, giống như tên trường này bao trùm cả tỉnh. Thật ra, đó là những suy nghĩ cảm tính, chứ vẫn có thể đặt là Trường THPT Sóc Trăng với ý nghĩa Sóc Trăng là địa danh, không phải là đơn vị hành chính, giống như trường THPT Bạc Liêu ở tỉnh Bạc Liêu.

Do vậy, những cách viết “Trường THPT thành phố Sóc Trăng”, hay “THPT Thành Phố” là cách viết chưa chuẩn và có hiểu nhầm về chủ thể xây trường và chủ thể quản lí nhà nước đối với hoạt động của một trường trung học phổ thông. Nếu được, tên trường này nên thay đổi thành “trường THPT Sóc Trăng” hay một địa danh trước đây (Khánh Hưng, Ba Xuyên), tên danh nhân (vd: Trần Hưng Đạo vì trường nằm trên đường ấy). Còn nếu không thay đổi, thì phải ghi như sở Giáo dục và Đào tạo “Trường Trung học phổ thông Thành Phố Sóc Trăng” mới đúng./.

Kết cấu, văn bản và bối cảnh của văn bản văn học dân gian so với các bảng tra cứu

Tác giả: Heda Jason

Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu Văn hóa Dân gian, Tháng 9 – Tháng 12, 1997, Vol. 34, số 3 (tháng 9 – tháng 12 năm 1997), trang 221-225[1]


[1] Xuất bản bởi: Indiana University Press

URL ổn định: https://www.jstor.org/stable/3814888

Trong nhiều khía cạnh có khả năng để sắp xếp, phân loại văn học truyền miệng và văn học dân gian, tôi chọn thảo luận mối quan hệ giữa lập các bảng tra cứu và nghiên cứu bối cảnh. Trong những thập kỷ gần đây, theo cách nói dân gian, “ngữ cảnh” đã được thu hẹp thành “diễn xướng”, tức là các khía cạnh sân khấu hay xã hội đương thời là đơn giản nhất, dễ quan sát và dễ mô tả nhất (Dundes 1964; Fine 1984). Tuy nhiên, có những loại bối cảnh khác quan trọng hơn đối với việc hình thành các tác phẩm văn học dân gian và truyền miệng do ý nghĩa của nó đối với xã hội và cá nhân. Sẽ có ích nếu khảo sát các bối cảnh bằng cách đặt văn bản vào một trật tự nào đó, và nhiều vấn đề chỉ được giải đáp khi sắp xếp các văn bản một cách hợp lý. Qua phân tích tác phẩm (về mô típ, tình tiết, kiểu và thể loại) cũng như kết cấu (về công thức và hình thức lời nói theo các nhóm ý nghĩa và trường ngữ nghĩa), người nghiên cứu buộc phải chuẩn bị tài liệu cho nhiều câu hỏi đa dạng. Người ta cũng sẽ phác họa ngắn gọn được nhiều bối cảnh cho các tác phẩm văn học truyền miệng và văn học dân gian cũng như mối quan hệ với thứ tự ở các cấp độ khác nhau.

JSTOR là một dịch vụ phi lợi nhuận giúp các học giả, nhà nghiên cứu và sinh viên khám phá, sử dụng và xây dựng dựa trên nhiều loại nội dung trong kho lưu trữ kỹ thuật số đáng tin cậy. Chúng tôi sử dụng công nghệ thông tin và các công cụ để tăng năng suất và tạo điều kiện cho các hình thức học bổng mới.

1) Ngôn ngữ. Phương ngữ được người diễn xướng/ tác giả (hoặc nhóm người diễn xướng) sử dụng để trình bày/ sáng tác tác phẩm tạo thành ngữ cảnh ngôn ngữ của tác phẩm đó. Việc khảo sát ngôn ngữ và các phương ngữ của nó là lĩnh vực ngôn ngữ học nhân danh chứ không phải việc của các nhà văn hóa dân gian, nhưng kết quả khảo sát ngôn ngữ phải được coi là cơ sở để nhà nghiên cứu dân gian bắt đầu. Khía cạnh ngữ nghĩa của từ vựng và thứ tự của từ vựng trong các trường ngữ nghĩa có tầm quan trọng hàng đầu khi nghiên cứu sự cần thiết, ý nghĩa và chức năng văn hóa và xã hội .

2) Âm thanh. Bất kỳ buổi biểu diễn bằng lời nói nào cũng mang một số thành phần âm nhạc, ngay cả khi không hát. (Ở đây, chúng tôi không quan tâm đến nhạc cụ mà quan tâm thành phần âm nhạc của một văn bản được diễn xướng). Khía cạnh âm thanh cũng liên quan đến cách diễn đạt của một tác phẩm khi kể lại (tức là một tác phẩm không được hát, dù được viết bằng văn xuôi hoặc câu thơ) trong chừng mực nào đó vì ngữ điệu có thể xác định ý nghĩa trong văn bản. Cấu trúc câu và giai điệu có mối liên hệ chặt chẽ với nhau và tạo nên ưu điểm của tác phẩm (xem phần 4.1 bên dưới). Trong khi thành phần giai điệu của lời hát được giới học thuật chú ý thì rất ít nghiên cứu về thành phần âm thanh của các văn bản ngâm thơ xuất hiện. Văn hóa âm nhạc của xã hội tạo thành bối cảnh âm thanh cho cả tác phẩm văn học truyền miệng được hát lẫn được ngâm. Việc nghiên cứu nền văn hóa âm nhạc này là trách nhiệm của các nhà âm nhạc học (âm nhạc dân tộc học), và nhà nghiên cứu văn học truyền miệng sẽ xây dựng dựa trên kết quả nhận được từ nhà âm nhạc học (phân loại và các cách khác).

3) Hành động. Bất kỳ tác phẩm nào được diễn xướng cho khán giả xem đều bao gồm thành phần hành động, tức là khía cạnh thứ ba của “văn bản truyền miệng”, sau thành phần từ ngữ và âm thanh. Hành động là chủ đề của một lĩnh vực đặc biệt của cuộc nghiên cứu; các mô tả một cách hệ thống và sơ đồ phân loại hành động trong văn hóa vẫn chưa được nghiên cứu (ví dụ, mô tả so sánh với âm nhạc). Những mô tả và lược đồ như vậy sẽ giúp đưa diễn xướng vào ngữ cảnh của nó.

4) Đặc điểm văn học – nghệ thuật. Hai cấp độ cơ bản của tác phẩm là kết cấu của văn bản được tổ chức theo thi pháp và nội dung được tổ chức thành các hình thức logic và khuôn mẫu.

4.1) Kết cấu. Tập hợp số từ ngữ trong tác phẩm thành các câu thơ, với cách nói ám chỉ và vần điệu; công thức truyền thống; cùng với việc sử dụng ngôn ngữ tượng hình của hình ảnh thơ đã được khảo sát nhiều. Cả hai đều cấu thành bối cảnh để người biểu diễn-ứng tác sử dụng thuận tiện.

Cho đến nay, không có các bảng tra cứu công thức nào được lập (thuộc bất kỳ thể loại dân tộc học nào) và tác giả chưa có cuộc nghiên cứu nào để tìm kiếm những phần nội dung được sắp xếp thành công thức (trường ngữ nghĩa). Cả hai loại nghiên cứu sẽ đặt công thức cá nhân vào bối cảnh rộng lớn hơn của văn học và văn hóa. Gần đây, các bảng tra cứu mô phỏng đầu tiên đã được biên soạn với triển vọng tổ chức hai phần mô phỏng thành các trường ngữ nghĩa và do đó đã đặt mô phỏng riêng lẻ vào bối cảnh văn học và văn hóa (Selivanov 1990, thực hiện cho sử thi và ballad Nga; thật đáng tiếc là các văn bản từ một số thể loại đã bị trộn lẫn và tạo ra bức tranh không rõ ràng).

4.2) Nội dung. Nội dung đã được nghiên cứu và sắp xếp một cách công phu nhất. Trong khi A. Aarne (1910) dựa trên các thể loại tự sự và bán tự sự về nội dung, thì Wienert (1925) lại dựa trên tác phẩm Sinntypen  để nghiên cứu các truyện ngụ ngôn có nội dung diễn đạt các ý tưởng. Đối với thể loại phi tự sự như tục ngữ, Permjakov đã thiết lập một sơ đồ các kiểu logic dựa trên hình thức logic của lập luận trong tục ngữ (xem Permjakov 1968 và Kapcits 1983).

Cả ba loại: nội dung, Sinnty và chủ đề logic đã mang văn bản vào bối cảnh văn học tức thời của các dị bản (hệ thống các dị bản tạo thành bối cảnh văn học chính) và các bối cảnh rộng lớn hơn của thể loại đó (hoặc thể loại phụ) và các tiết mục của đơn vị xã hội tương ứng (xem phần dưới, điểm 7).

Lược đồ các loại của một thể loại thường sắp xếp nhóm nội dung của thể loại cho nhiều mục đích khác nhau. Cần lưu ý rằng  nghĩa và ý của các tác phẩm văn học truyền miệng và văn học dân gian được mã hóa trong nội dung của chúng (chứ không phải ở hình thức!). Trong các cách dùng của lập các bảng tra cứu là nghiên cứu có hệ thống về sự phát triển trong lịch sử văn học dân gian và truyền miệng văn hóa của một xã hội. Điều này đạt khi có nhiều mô tả cắt ngang đồng đại về đặc điểm các tiết mục của một thể loại trong một nền văn hóa-xã hội (hoặc của toàn bộ các tiết mục của xã hội — xem bên dưới, điểm 6). Người ta thường so sánh có hệ thống các nền văn hóa đa dạng; nghiên cứu một cách hệ thống các mối quan hệ qua lại giữa truyền thống truyền miệng và chữ viết hoặc văn học “cao cấp” và “dân gian” trong một nền văn hóa cụ thể, v.v. (điểm nhấn ở đây là “có hệ thống”).

Việc khảo sát ý nghĩa phải dựa trên dữ liệu chính xác và có hệ thống về nội dung và dữ liệu này chỉ có thể thu được từ các chỉ số được thiết lập kĩ lưỡng tập trung vào các cấp độ khác nhau: hình ảnh thơ, công thức, mô típ, tình tiết, kiểu nội dung, kiểu ý tưởng, hình thức lôgic , thể loại, v.v.

5) Bối cảnh văn học – lịch sử. Toàn bộ kho tàng văn học từ quá khứ tới hiện tại, của một nền văn hóa, với truyền thống truyền miệng và chữ viết, toàn bộ văn học bình dân và cao cấp, tôn giáo và thế tục, v.v., tạo thành bối cảnh quan trọng nhất cho văn học truyền miệng và dân gian của một xã hội nhất định tại một khoảnh khắc nhất định trong lịch sử. Tất nhiên, chúng ta hãy nói thêm rằng, các nền văn hóa lân cận (trong không gian và thời gian) cũng tạo thành một bối cảnh quan trọng. Nếu không có các bảng tra cứu được  sắp xếp ở tất cả các cấp độ ý nghĩa thì không thể nghiên cứu có hệ thống về các mối quan hệ của một thể loại văn học nhất định với bối cảnh văn học của chính nó (nghiên cứu như lịch sử phát triển của văn học, ảnh hưởng lẫn nhau, liên hệ trong không gian và thời gian, “cuộc sống” của một chủ đề, v.v.).

6) Bối cảnh văn hóa. Ngoài văn học (và ngôn ngữ, âm thanh, và hoạt động động mà văn học truyền miệng được sáng tác), văn hóa còn bao gồm nhiều yếu tố khác. Tất cả những bối cảnh này tạo thành bối cảnh cho văn học, có thể là truyền miệng hoặc viết, “dân gian” hoặc “cao cấp”. Trong số này, theo thứ tự quan trọng đối với văn học là niềm tin (của tôn giáo chính thức và những thứ khác), kiến ​​thức về đời sống (khoa học/ kỹ thuật, triết học) và hệ tư tưởng; nghệ thuật thị giác, âm nhạc và khiêu vũ; và văn hóa vật chất. Việc nghiên cứu mối quan hệ của văn học với tất cả những thứ này như là chúng đã tồn tại trong quá khứ và hiện tại nên được xử lý trong bảng tra mô-típ, nơi sắp xếp nội dung của tác phẩm văn học thành các trường ngữ nghĩa và đặt chúng theo ý của người nghiên cứu.

7) Bối cảnh xã hội và tâm lý.

7.1) Người diễn xướng. Tác phẩm sống trong ý thức của người thực hiện với tư cách là một cá nhân (khía cạnh tâm lý) và như một thành viên của các nhóm xã hội ở nhiều mức độ phức tạp khác nhau (khía cạnh xã hội). Hầu hết các nhóm này tạo thành “khán giả”. Có thể nói tất cả những người biểu diễn của một làng hay một huyện đều tạo thành một nhóm, với những đặc điểm chung. Một số thể loại được  một cá nhân ngồi biểu diễn; các thể loại khác trong cùng một xã hội có thể được thực hiện như một sản phẩm của một nhóm người (mỗi người đóng một vai trò khác nhau trong quá trình tạo lập).

7.2) Khán giả. Khán giả của một người diễn xướng trong một buổi biểu diễn có thể là những người dân làng/ bộ lạc của người diễn xướng hoặc một nhóm du khách tình cờ đi ngang chứng kiến. Khán giả cũng có thể cố định, tức là dân làng/ người bộ lạc, những người hầu như không đổi trong suốt cuộc đời. Buổi biểu diễn của nghệ sĩ truyền miệng chỉ có ý nghĩa về mặt xã hội trong khuôn khổ khán giả. Cộng đồng khán giả lại được chia thành các nhóm tuổi, giới tính, nghề nghiệp và giai cấp; mỗi người trong số này đôi khi có thể hoạt động như một khán giả kín cho một số nhóm tác phẩm nhất định. Hai kiểu người này, (những) người biểu diễn và khán giả, là những tác nhân xã hội chính có thể được quan sát một cách dễ dàng và bằng kinh nghiệm. Hành vi và sự tương tác của họ là cấp độ cao nhất của tác phẩm văn học truyền miệng, mở ra để quan sát ngay lập tức và dễ dàng ghi lại và mô tả nhất.

Các nhóm phức tạp hơn chỉ là thứ yếu: chúng mang tính lý thuyết và không thể quan sát được. Chúng phải được người nghiên cứu xây dựng trên cơ sở dữ liệu quan sát được trong các nhóm đối tượng diễn xướng chính, tức là cuộc nghiên cứu của họ cần các công cụ học thuật phức tạp hơn nhiều. Các nhóm thứ cấp như vậy bao gồm theo sắc tộc, thế hệ, giới tính, nghề nghiệp và giai cấp, các thành viên trong số đó vượt quá cộng đồng địa phương. Chúng có thể nằm rải rác trong không gian và thời gian trong toàn bộ xã hội; một tổng thể văn hóa-xã hội (ví dụ, một quốc gia) thuần nhất về mặt dân tộc; và một khu vực văn hóa bao gồm nhiều xã hội-văn hóa đồng nhất về sắc tộc và các nhóm rải rác thuộc các loại đã nêu trên (ví dụ, hãy xem xét khu vực văn hóa Hồi giáo với nhiều quốc gia và nhóm dân tộc thiểu số).

7.3) Tổ chức xã hội. Yếu tố thứ ba ảnh hưởng rất nhiều đến văn học dân gian và truyền miệng là tổ chức và thể chế của xã hội. Cuộc sống trôi chảy trong khuôn khổ của các tổ chức và thể chế xã hội, và văn học là một phần của hoạt động của cuộc sống. Ví dụ, chúng ta hãy đề cập đến văn học tôn giáo phổ biến do các tổ chức tôn giáo tạo lập, thuyết giảng tôn giáo đi trực tiếp vào truyền miệng, việc tu luyện văn học truyền miệng tại các tòa án thời trung cổ, các tác phẩm văn học truyền miệng là những phần bắt buộc của nghi lễ và phong tục, và việc can thiệp vào luồng văn học truyền miệng của các tác nhân chính trị sử dụng nó cho mục đích tuyên truyền. Tất cả những điều này thay đổi ý nghĩa và thông điệp bằng cách thay đổi nhóm nội dung, ý nghĩa biểu tượng và sự kết hợp các đơn vị đơn giản hơn vào để tạo thành các bố cục phức tạp hơn.

Mỗi đơn vị xã hội, từ cá nhân người diễn xướng đến toàn xã hội, có một kho tác phẩm được xây dựng từ việc tổng hợp các nội dung, kết hợp với sự trợ giúp của một bộ quy tắc sáng tác nhất định thành các tác phẩm thuộc nhiều thể loại. Một bảng tra cứu các mô-típ mô tả nhóm nội dung và sắp xếp nó thành các trường ngữ nghĩa; bảng tra cứu loại (hoặc bảng tra cứu của các hình thức logic) sắp xếp và mô tả toàn bộ tác phẩm; và mục lục thể loại mô tả thành phần của tiết mục. Các chỉ số về công thức và số liệu của lời nói nên mô tả và sắp xếp thứ tự các thủ pháp thi ca giúp định hình kết cấu của tác phẩm. Vì vậy, trên mọi cấp độ lập bảng tra cứu là điều kiện tiên quyết cần thiết để nghiên cứu. Để biết danh sách các chỉ số cho mô típ, kiểu và thể loại cho đến năm 1992, hãy xem tập thứ hai của Jason (sắp xuất bản).