Cần có một cách nghĩ và một cách làm khác trong nghiên cứu Khoa học Xã hội và Nhân văn

Khoa học xã hội và nhân văn là một trong ba lĩnh vực lớn của nền khoa học nhân loại. Tùy vào truyền thống nghiên cứu của từng quốc gia mà người ta chia ra thành khoa học xã hội (social science) và khoa học nhân văn (humanity science) hoặc gộp lại như ở Việt Nam. Cả hai ngành này sở dĩ ghép chung được vì đối tượng của nó là con người và các vấn đề liên quan đến con người trong hoạt động và trong suy nghĩ. Có thể hiểu một cách nôm na nhất, khoa học xã hội nghiên cứu con người ở bên ngoài, trong các mối quan hệ với người khác, qua hành vi, qua việc làm và có thể đo lường bằng chỉ số; còn khoa học nhân văn thì nghiên cứu con người ở bên trong, ở tư duy, ở suy nghĩ, ở ngôn ngữ,..bằng một loại phương pháp có tính đặc thù, khó lượng hóa được, kiểu như các nhà văn nói “lấy hồn tôi để đo hồn người”.

Nếu như khoa học tự nhiên và kĩ thuật có tính quốc tế, tính toàn cầu thì KHXH&NV có tính nhân loại, tính cục bộ. Nếu như chân lí của KHTN&KT nằm ở thế giới tự nhiên, không phụ thuộc vào ý chí con người, có thể kiểm chứng dễ dàng thì chân lí của KHXH&NV lại nằm ở lòng người, ở đặc tính dân tộc, khó kiểm chứng được hoặc muốn kiểm chứng thì thời gian sẽ dài. Mỗi một dân tộc cư ngụ trên một dải đất có phạm vi cụ thể, có điều kiện khí hậu đất đai, phong tục tập quán, lối sống riêng, có cách nghĩ riêng về các giá trị trong cuộc sống nên không thể đem toàn bộ thành quả của dân tộc này áp dụng vào dân tộc khác. Dẫu rằng, khi đã là khoa học thì phải có các yếu tố mang tính phổ quát nhưng trong KHXH&VN, tính đặc thù vẫn chế ngự. Vì tính đặc thù này mà đôi khi xảy ra những chuyện “khó xử”, chẳng hạn trong các công trình nghiên cứu lịch sử địa phương. Khi viết sử địa phương, người viết thường vận dụng các sự kiện gắn liền với vùng đất và con người nơi đó, những việc có một không hai, tạo nên sự mới lạ trong việc tiếp nhận. Người nghe cũng không dám phản biện vì mình không hề có mặt ở đó, nhất là trong quá khứ. Cuối cùng, công trình khoa học cũng phải được thông qua không chỉ vì tài năng của người nghiên cứu mà còn vì bản thân sự kiện đã làm nên tính mới.

Trong nghiên cứu khoa học, một trong những vấn đề có tính cách quyết định khi đánh giá một công trình là tính hiệu quả trong thực tiễn. Điều này rất dễ đo lường trong khoa học tự nhiên và kĩ thuật bằng một hệ thống các công cụ mang tính chính xác cao hoặc các hiện tượng xảy ra trong thực tế. Nhưng đối với các ngành KHXH&NV, chuyện ấy không hề dễ dàng. Một nghiên cứu tâm lí khách hàng có thể mất vài tháng; một nghiên cứu về chính sách của nhà nước đối với một nhóm cư dân có thể phải kiểm chứng trong khoảng vài ba năm; một công trình về tư tưởng, lịch sử trong việc giáo dục thanh thiếu nên có thể phải mất 10 năm thậm chí hơn nữa; và một công trình nghiên cứu về văn hóa, văn học đối khi phải đo bằng cả thế hệ.

Published by

huynhvulam

Một chút nghiêm túc, một chút vui vẻ, một chút nguyên tắc, một chút xề xòa, một chút tốt, một chút xấu và còn lại là cả một tấm lòng và một tấm chân tình dành cho người, cho đời

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

Trang web này sử dụng Akismet để lọc thư rác. Tìm hiểu cách xử lý bình luận của bạn.