Bối cảnh-một định hướng nghiên cứu văn học nhiều triển vọng

BT12

Thuật ngữ “bối cảnh” bắt nguồn từ tiếng La-tinh “textere”, vốn có nghĩa là “hành động dệt”. Trong một nghĩa rộng hơn, “bối cảnh” là tất cả những gì đi cùng với văn bản. Một văn bản, giống như một mảnh vải, được “dệt” thành từ tình huống của một sự diễn xướng được bố trí sẵn (mà trong đó gồm): người nghe, người trình diễn, những nền tảng kiến thức và hiểu biết của một nhóm người có tính xã hội, và nền tảng văn hoá của người kể/hát lẫn người nghe. Cụ thể là từ nhừng năm 1960, khi mà các nhà folklore nhấn mạnh yếu tố trình diễn nhằm đáp ứng việc phát triển trong lĩnh vực ngôn ngữ học xã hội thì bối cảnh đã được sử dụng như là một khái niệm có tính phân tích, làm trọng tâm để khám phá những điều kiện mà các tư liệu folklore đã được sáng tạo, lưu truyền và tiếp nhận. Bởi vì được sử dụng trong lĩnh vực nghiên cứu folklore nên cách nghiên cứu theo bối cảnh cố gắng làm cho các tư liệu folklore đạt được tính dễ hiểu, thấu đáo và toàn diện hơn là mô tả hay chỉ giải thích.

Việc hiểu khái niệm bối cảnh là nhờ vào sự phát triển của ngành Nhân học Văn hoá, đặc biệt là sự đóng góp của Bronislaw Malinowski, ông đã tìm ra cách nghiên cứu folklore thông qua công trình của William Bascom. Các khái niệm “bối cảnh tình huống” và “bối cảnh văn hoá” của Malinowski, vốn được coi là yếu tố tối cần thiết để hiểu một văn bản, đã thu hút sự chú ý (của mọi người) vào cả những tình huống cụ thể (mà một văn bản sẽ được sáng tác hay diễn xướng) lẫn những hệ thống văn hoá lớn hơn (mà văn bản là một phần trong đó). Những quan niệm về bối cảnh và tầm quan trong của nó trong việc hiểu văn bản đòi hỏi cần có một cấp độ mới của việc phân tích và chuyển hướng chú ý của các nhà nghiên cứu folklore từ chức năng sang ý nghĩa, từ giải thích sang thông diễn. Alan Dundes yêu cầu làm sáng tỏ bản chất của bối cảnh bằng cách đặt bối cảnh trong mối quan hệ với các khái niệm “văn bản” (một phiên bản đơn lẻ của một tiết mục folklore) và “kết cấu” (những yếu tố thuộc về cấu trúc ngôn ngữ của văn bản). Theo Dundes, bối cảnh của một tiết mục folklore là một hoàn cảnh xã hội đặc biệt mà trong đó, các tiết mục cụ thể được sử dụng thực tế [Dundes, tr.23]. Dundes đã khẳng định rằng văn bản và những yếu tố liên quan phải được hiểu không chỉ là có mối quan hệ với bối cảnh mà còn bị bối cảnh gây ảnh hưởng. Do vậy, trong lĩnh vực sưu tầm folklore, tài liệu được tìm hiểu không chỉ là văn bản mà còn là bối cảnh bởi lẽ bối cảnh sẽ cung cấp cho chúng ta câu trả lời cho câu hỏi: điều gì quan trọng trong văn bản và tại sao chúng được sử dụng trong hoàn cảnh xã hội đó. Việc phân tích [các vấn đề] ai kể, kể cái gì, kể với ai, kể khi nào và kể trong hoàn cảnh nào cho phép chúng ta hiểu được tại sao văn bản có một cấu trúc hình thức như vậy. Ngoài ra, theo Dundes, việc bối cảnh định hướng cho văn bản là một bằng chứng cho thấy hiểu biết về bối cảnh có thể giải thích sự biến đổi bên trong của văn bản và kết cấu [Dundes, tr. 27]. hiểu rõ bối cảnh hơn sẽ cho phép người nghiên cứu hiểu vì sao có sự khác nhau trong số nhiều câu chuyện cùng loại.

Bối cảnh có liên quan đến hành động kể chuyện một cách rất hữu cơ, rõ ràng. Áp dụng mô hình ngôn ngữ vào hoạt động giao tiếp trong một tình huống kể chuyện, từ năm 1969, Robert A. Georges đã nhấn mạnh rằng: thông điệp của mỗi tình huống kể chuyện được định hướng do sự tương tác/ tiếp xúc giữa người kể và người nghe trong sự tham chiếu với mối quan hệ tương tác có tính xã hội giữa họ, mà hoàn cảnh đó vốn là độc đáo duy nhất cho mỗi dịp kể chuyện. Tuy nhiên, vai trò của bối cảnh trong kể chuyện đã được biết đến rất rõ từ trước thập niên 60 của thế kỉ XX. Đại diện cho quan niệm nghiên cứu bối cảnh ở Đông Âu, Mark Azadovskii đã nhấn mạnh vai trò của người kể trong quá trình kể chuyện vào khoảng thời gian sớm hơn năm 1926 trong bài viết Einc Sibirische Marchenerzahlerin, qua lời giới thiệu cho lần hiệu đính tuyển tập truyện cổ tích sưu tầm ở vùng cao Lenar ở Irkutsk vào năm 1925. Được dịch sang tiếng Anh vào năm 1974 với nhan đề A Siberian Tale Teller, công trình có tính tiên phong của Azadovskii đã tìm thấy sự cộng hưởng trong số các nhà nghiên cứu folklore Hoa Kỳ vốn chỉ ở thập niên 1980. Azadovskii trình bày một hình ảnh về người kể chuyện có tính cách mạng, đặc biệt là Natalia Vinoukurova, một người mù chữ đã cung cấp cho Azadovskii hơn 50 truyện kể. Trong số các nhân vật xuất hiện trong truyện kể của Vinoukurova, có những người lang thang cơ nhỡ, mà một số trong đó là tù nhân ở vùng Upper Lena. Bằng cách phân tích các mô-típ cụ thể trong các truyện của Vinokurova, Azadovskiikhám phá ra rằng, một số môtíp hình thành từ bối cảnh lịch sử cụ thể và sự diễn xướng của người kể chuyện phụ thuộc rất lớn vào tình trạng tâm lí của người kể.

Linda Dégh là một nhà khoa học khác đại diện cho trường phái Đông Âu trong việc nghiên cứu bối cảnh. Trong quyển, Folktales and Society, xuất bản lần đầu ở Đức năm 1962 và được dịch sang tiếng Anh năm 1969, Dégh tập trung vào mối quan hệ giữa truyện kể, người kể và xã hội. Công trình nghiên cứu của bà đã cho thấy sự ảnh hưởng của cá tính và địa vị xã hội của người kể chuyện vào văn bản của truyện kể và giải thích rõ khái niệm “tính ổn định” và “tính liên tục” trong truyền thống. Tính liên tục, một khi nảy sinh, phụ thuộc vào người kể lẫn người nghe đóng vai trò then chốt trong bối cảnh xã hội. Dù người kể nói câu chuyện yêu thích của họ nhưng người nghe không cảm thấy hứng thú với câu chuyện đó thì nó sẽ không hề lưu dấu vết trong kho tàng truyện truyền thống. Bằng cách truy tìm những truyện kể khác mà nó có khả năng khơi gợi sự chú ý của tác giả, người kể duy trì vốn truyện kể trong vốn truyện của họ.

Những nhà nghiên cứu loại tự sự dân gian trước đây đã ngấm ngầm nhận ra rằng truyện dân gian có thể được định hướng bởi cái mà bây giờ chúng ta gọi là “bối cảnh” khi mà các học giả ấy đã xem truyện kể như là sự biểu hiện/ hiện thân của xã hội, văn hoá, và đặc tính dân tộc. Dựa vào các công trình của tác giả người Đức Joham Gottfried Herder ở thế kỉ XVIII và của anh em nhà Grimmm vào thế kỉ XIX, phong cách của truyện kể dân gian có nguồn gốc từ những bối cảnh xã hội và những bối cảnh văn hoá mà tác phẩm được sáng tác. Herder chứng minh rằng văn học dân gian mang ơn những người nông dân vốn gần gũi với tự nhiên trong việc hình thành phong cách của nó. Ngày nay – với sự trỗi dậy của các phương pháp nhân học văn hoá, các phương pháp tiếp cận dân tộc học và các phương pháp lịch sử, xã hội, nghiên cứu văn hoá và phong trào văn hoá xã hội như Nữ quyền – các nhà nghiên cứu đã chọn lựa được một bối cảnh rộng hơn của xã hội, văn hoá và các yếu tố tình huống đưa vào nghiên cứu khi xem xét. Điều đó còn bao gồm cả tuổi tác, giới tính, dân tộc, giai cấp, tình trạng kinh tế, xã hội của người kể lẫn người nghe. Tất cả những yếu tố đó đóng vai trò trong việc khám phá hình thức, ý nghĩa và chức năng của tư liệu truyện kể.

(Huỳnh Vũ Lam dịch từ “Donald Haase (2008), The Greenwood Encyclopedia of Folktales and Fairy Tales, Greenwood Press, USA)

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

Trang web này sử dụng Akismet để lọc thư rác. Tìm hiểu cách xử lý bình luận của bạn.

%d người thích bài này: